g đùng nổi giận, bảo Quan Vân Trường:
- Lão này thật khi dễ chúng ta quá, lão thấy đại ca đứng hầu dưới thềm, lại ngửa mặt lên cao giả đò ngủ không chịu dậy. Thôi, để em ra sau nổi lửa đốt chòi, xem lão có thức dậy hay không?
Vân Trường cản ngăn lắm Trương Phi mới thôi.
Huyền Ðức nghe tiếng xì xào, quay lại thấy vậy vội sai hai người hãy lui ra ngoài mà chờ.
Bỗng Khổng Minh trở mình một cái như sắp trở dậy, Huyền Ðức đã mừng...
Nhưng rồi Khổng Minh lại quay mặt vào vách ngủ nữa.
Ðồng tử thấy đã lâu quá, toan bước đến đánh thức, nhưng Huyền Ðức ngăn lại:
- Ấy, cứ thong thả... đừng làm kinh động!
Rồi lại kiên nhẫn đứng chờ... Chờ mãi, qua suốt một canh giờ nữa, Khổng Minh mới tỉnh giấc.
Vừa mở mắt đã ngâm mấy câu rằng:
Mộng lớn ai người sớm tỉnh ra?
Bình sinh ta vẫn biết mình ta.
Lều tranh no giấc, bừng con mắt!
Bóng ác ngoài song đã xế tà...
Ngâm dứt, quay mình lại hỏi tiểu đồng:
- Có tục khách đến nhà chăng?
Tiểu đồng thưa:
- Có Lưu Hoàng thúc đến đây đứng chờ thầy đã lâu.
Khổng Minh vội ngồi dậy quở tiểu đồng:
- Sao ngươi không đánh thức ta? Ðể ta còn vào thay áo đã.
Dứt lời, vội đi thẳng vào nhà trong.
Ðộ nửa giờ sau, Khổng Minh mới chỉnh tề khăn áo bước ra đón Huyền Ðức.
Huyền Ðức thấy Khổng Minh mình cao tám thước, mặt đẹp như bạch ngọc, mắt sáng tợ sao sa, đầu đội khăn xếp cuốn, mình khoác áo lông hạc, phiêu phiên đường bệ mà có phong thái thần tiên.
Huyền Ðức vội thi lễ mà rằng:
- Một đứa cháu hèn kém của nhà Hán, một kẻ ngu phu ở Trác quận, nghe tiếng tiên sinh đã từ lâu như sấm vang tai, vừa đây đã hai lần đến đây bái yết mà vẫn chưa được gặp, nên có ghi tên hèn gửi lại trên văn kỷ. Chẳng hay tiên sinh đoái nhìn chưa?
Khổng Minh nghiêng mình đáp lễ, nói:
- Tôi là một kẻ quê mùa ở Nam Dương, tính lười nết xấu, được Tướng quân mấy lần chiếu cố, thực tôi lấy làm hổ thẹn vô cùng.
Thi lễ xong, Khổng Minh mời Huyền Ðức chia ngôi chủ khách mà ngồi đàm đạo.
Lát sau, tiểu đồng bưng trà lên, hai người dùng qua vài chung, rồi Khổng Minh nói:
- Tôi xem ỵ thư hôm nọ, thấy đại ý của Tướng quân muốn làm việc đại nghĩa, cứu dân độ thế. Song tiếc rằng Lượng này ít tuổi, vô tài, chỉ làm nhọc công Tướng quân đó thôi.
Huyền Ðức ân cần nói:
- Lời của Từ Nguyên Trực và Tư Mã Ðức Tháo há nói sai sao? Xin tiên sinh chớ chê Bị này bỉ tiện mà dạy bảo cho...
Khổng Minh lắc đầu:
- Ðức Tháo, Nguyên Trực mới là những bậc cao sĩ trên đời, còn Lượng chỉ là một gã nông phu có tài cán chi mà bàn việc thiên hạ? Sao Tướng quân lại bỏ ngọc đẹp để đi tìm đá sỏi như vậy?
Huyền Ðức nghiêng đầu tha thiết nói:
- Ðại trượng phu có kỳ tài kinh bang tế thế, há lại sống vất vả vô ích nơi suối hoang, rừng rậm, để tài lớn mai một đi chăng? Xin tiên sinh hãy thương lấy sinh linh thiên hạ, mà dạy bảo mở mang cái trí ngu cho Bị.
Khổng Minh khẽ mỉm cười, hỏi:
- Xin cho nghe cái chí nguyện của Tướng quân?
Huyền Ðức bèn ngồi ngay ngắn lên, trịnh trọng đáp:
- Nay nhà Hán nghiêng đổ, bị kẻ gian hùng chiếm đoạt, Bị này không kể sức, muốn cử binh diệt trừ loài phản tặc, như trí thuật kém cỏi, không thể làm được việc nên nhờ tiên sinh vạch đường cho, để cứu khổn phò nguy, thật là vạn hạnh.
Khổng Minh trầm tư một lúc, rồi nói:
- Từ khi Ðổng Trác phản nghịch, hào kiệt nổi dậy khắp thiên hạ. Tào Tháo thế kém hơn Viên Thiệu, cuối cùng thắng được Viên Thiệu, đó không phải chỉ nhờ số trời mà cũng nhờ mưu người đó. Nay Tào Tháo đã nắm trăm vạn quân trong tay, lấy Thiên tử để sai khiến chư hầu. Như thế, thật khó tranh giành lại được. Tôn Quyền chiếm Giang Ðông nối nghiệp đã ba đời, nước hiểm trở, dân thuận phục. Vậy cũng chỉ nên kết làm ngoại viện, chứ không thể mưu chiến. Còn Kinh châu phía Bắc có sông Hán, sông Miện; nguồn lợi phía Nam đến tận Nam hải; mặt Ðông liền với Ngô Hội; phía Tây thì thông với Ba Thục, chính là đất dụng võ. Nếu chẳng phải chân chúa thì khó mà giữ được. Ðó là chỗ trời dành cho Tướng quân đó, chớ nên bỏ. Ðất Ích châu hiểm trở, ngàn dặm đồng lầy, nổi tiếng là "cái kho nhà trời". Xưa vua Cao Tổ cũng nhờ vào đó mà nên đế nghiệp. Nay Lưu Chương nhu nhược, dân đông nước giàu, lại chẳng biết lo giữ vững. Những kẻ trí năng đều chán nản, chỉ mong mỏi được thờ một đấng minh quân. Nay Tướng quân là dòng dỏi nhà Hán, tín nghĩa sáng rỡ khắp bốn bể, lại biết thu phục anh hùng, cầu người hiền như khát nước, nếu gồm được châu Kinh, châu Ích mà giữ vững thế hiểm, thì phía Tây hòa với các rợ Nhung, phía Nam vỗ yên các xứ Di, Việt, rồi bên ngoài kết liên Tôn Quyền, bên trong sửa sang chính lý. Chờ khi thiên hạ có biến, hãy sai một Thượng tướng kéo quân Kinh châu lên miền Uyển Lạc. Còn Tướng quân thì thân đem đại binh Ích châu ra mặt Tần Xuyên. Thử hỏi trăm họ bốn phương, nơi đâu lại không đem giỏ cơm, bầu nước ra đón Tướng quân?
Ðó, Lượng này vì Tướng quân mà vạch kế như thế đấy. Tướng quân hãy lo mà làm đi.
Rồi gọi tiểu đồng đem ra một bức địa đồ, treo lên giữa nhà, Khổng Minh trỏ tay bảo Huyền Ðức:
- Ðây là bản đồ năm mươi bốn huyện Tây Xuyên. Tướng quân muốn dựng nghiệp Ðế thì phía Bắc phải nhường cho Tào Tháo chiếm thiên thời. Phía Nam nhượng cho Tôn Quyền chiếm lấy địa lợi. Còn Tướng quân phải chiếm lấy nhân hòa. Vậy trước phải lấy Kinh châu làm nhà, sau lấy Tây Xuyên mà khai cơ nghiệp, tạo thành cái thế chân vạc rồi sau mới mưu đồ đến cái đất Trung nguyên.
Huyền Ðức nghe nói, đứng dậy cung kính xá một cái và tạ rằng:
- Lời vàng ngọc của tiên sinh đã mở mang óc ngu tối, khiến Bị như rẽ được mây mù, trông thấy trời xanh. Ngặt vì Lưu Cảnh Thăng ở Kinh châu và Lưu Quỵ Ngọc ở Tây Xuyên đều là người trong tôn tộc nhà Hán, Bị nỡ nào thâu đoạt cho đành?
Khổng Minh nói:
- Ðêm qua, tôi xem thiên tượng thấy Lưu Biểu chẳng còn sống bao lâu nữa, còn Lưu Chương không phải là người nối nghiệp, cơ nghiệp này ngày sau ắt cũng về tay Tướng quân.
Huyền Ðức cúi đầu bái tạ.
Thế là chỉ qua một câu chuyện ngắn ngủi ấy, đủ thấy Khổng Minh chưa ra khỏi lều tranh mà đã dư biết "Thiên hạ chia ba" sau này. Thật là bật kỳ tài quán thế, vạn cổ chỉ có một không hai vậy.

Người sau có thơ rằng:
Dự châu đang lúc vận gieo neo,
May gặp danh nhân dưới mái lều.
Thiên hạ chia ba, rồi sẽ thấy,
Tiên sinh cười trỏ bản đồ treo.
Huyền Ðức ngỏ lời bái thỉnh Khổng Minh:
- Bị này tuy danh hèn đức mỏng, xin tiên sinh chớ nệ, xuất sơn giúp cho, Bị này nguyện chắp tay nghe theo lời chỉ dạy.
Khổng Minh từ tạ:
- Lượng này đã vui nghề cày cuốc, lười biếng việc đời từ lâu. Thật không thể vâng lời Tướng quân được.
Huyền Ðức ngẹn ngào năn nỉ:
- Nếu tiên sinh không ra giúp thì thiên hạ biết chừng nào mới êm ấm được và sinh linh còn trông mong ai cứu vớt nữa?
Dứt lời, lệ tuôn ướt đầm cả tay áo.
Khổng Minh thấy lòng của Huyền Ðức quả thật chân thành, bèn nhận lời:
- Tướng quân có lòng đoái tưởng thì tôi xin nguyện đem hết sức hèn này mà báo đáp ân tình.
Huyền Ðức vui mừng khôn xiết, liền gọi Quan, Trương vào bái kiến và dâng lễ vật, vàng lụa.
Khổng Minh từ chối không nhận.
Huyền Ðức nói:
- Ðây không phải là lễ ra mắt đại hiền. Chỉ gọi là một chút vật mọn để tỏ tấm lòng của Bị này thôi.
Khổng Minh thấy không thể từ chối được, sai tiểu đồng đem lễ vật vào trong.
Thế rồi Huyền Ðức cùng mọi người ngủ lại trong thảo trang một đêm.
Sáng hôm sau, Gia Cát Quân trở về, Khổng Minh dặn:
- Anh chịu ơn Lưu Hoàng Thúc ba lần họ cố, không thể không ra giúp. Em hãy ở nhà chăm lo cày ruộng, chớ để ruộng rẫy hoang rậm nhé. Một ngày kia thành công rồi, anh sẽ trở về đây nương tựa.

Người sau có thơ rằng:
Thân chưa bay nhảy, tính lui rồi,
Ngày khác thành công, hẳn nhớ lời.
Bởi Chúa nghiêng lòng đem phó thác,
Trận tiền gió lạnh, ánh sao rơi...
Lại có bài thơ cổ phong như sau:
Cao Hoàng vung kiếm thần ba thước,
Rắn trắng Mang đường đổ máu loang.
Diệt Sở, bình Tần, xây xã tắc,
Hai trăm năm lẻ, dứt triều cương.
Lạc dương, Quang Vũ kế ngai rồng,
Truyền đến Hoàn, Linh lại lở long.
Hiến Ðế dời đô về huyện Hứa,
Bốn phương hào kiệt nổi như ong!

Chuyên quyền Tào Tháo được thiên thời,
Mở nghiệp, Tôn Quyền cũng vững nơi.
Huyền ức riêng mình không đất đứng,
Nương thân Tân Dã tạm thời thôi...

Nam Dương Gia Cát ẩn tài danh,
Bụng chứa kinh luân với giáp binh.
Từ Thứ ra đi, vừa tiến cử,
Lưu Quân ba lượt đến lều tranh!

Tiên sinh hăm bảy tuổi đương xuân,
Thu xếp cầm thư, giữ ruộng vườn.
Tây Thục, Kinh châu trời sẳn để...
Cho người mở rộng túi kinh luân.

Một lời đầu lưỡi, nổi ba đào,
Muôn kế tung ra, sấm sét gào!
Rồng cuộn, hổ vờn yên bốn cõi,
Muôn đời ai dễ sánh tài cao?
Rồi sau đó, Huyền Ðức, Quan, Trương từ biệt Gia Cát Quân, rồi cùng Khổng Minh trở về Tân Dã.
Từ ngày được Khổng Minh, Huyền Ðức kính trọng như bậc thầy, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, suốt ngày bàn luận việc thiên hạ.
Một hôm, Khổng Minh nói:
- Nghe Tào Tháo đào ao Huyền Vũ ở Kỵ châu để luyện tập thủy quân, ắt đã có bụng xâm phạm Giang Nam rồi. Vậy thì Chúa công cũng nên cho người sang sông dò xem hư thật ra sao?
Huyền Ðức theo lời, sai quân sang đất Giang Ðông dọ la.
Nhắc lại Tôn Quyền từ ngày thừa kế sự nghiệp của Tôn Sách, giữ vững Giang Ðông, rộng lòng thâu nạp hiền sĩ, mở quán nghênh tân ở Ngô Hội, sai Cố Ung và Trương Hoành túc trực đón tiếp tân khác bốn phương.
Luôn mấy năm, cứ người này tiến cử người kia, người kia lại tiến cử người nọ, số mưu sĩ tề tựu mỗi lúc một đông.
Bấy giờ đã được thêm Hám Trạch tự Ðức Thuận ở Cối Kê, Nghiêm Tuấn tự là Man Tài người Bành thành, Tiết Tổng tự là Kính Văn ở Bái huyện, Trình Bỉnh tự là Ðức Khu người Nhữ Nam, Châu Hoàn tự là Hưu Mục ở Ngô quận, Lục Tích tự là Công Kỷ ở Hoài Nam, Trương Ôn tự là Huệ Thứ người đất Ngô, Lăng Thống tự là Công Trực ở Cối Kê, Ngô Xán tự là Khổng Hưu ở Ô Trình...
Những người này ở khắp nơi kéo về Giang Ðông, được Tôn Quyền kính lễ hậu đãi.
Sau đó, lại còn có thêm mấy tướng giỏi nữa đến phò như Lữ Mông tự là Tứ Minh người Nhữ Dương, Lục Tốn tự là Bá Ngôn ở Ngô quận, Từ Thịnh tự là Văn Hưởng người Lang gia, Phan Cương tự là Văn Khuê ở Ðông quận, Ðinh Phụng tự là Thừa Uyên ở Lư Giang...
Văn thần võ tướng đều hợp sức phò tá, cho nên Giang Ðông bấy giờ mới được tiếng là nhiều nhân tài.
Năm Kiến An 